Từ Nga Với Lòng Cảm Mến:
CHA DÒNG JOHN GIBBONS TRÊN ĐƯỜNG SỨ VỤ Ở TÂY BÁ LỢI Á

Cha John Gibbons, quê ở Beaverton, Oregon, mới đây có trở về Mỹ để thăm gia đình và bạn hữu, và tìm cách kêu gọi đóng góp cho công tác ở Nga. Qua hơn 13 năm Cha đã phục vụ trong công tác của Dòng Phan-xi-cô ở ngoại quốc trong cơ sở ở Tây Bá Lợi Á ở Nga.

Đời sống hàng ngày ở giáo xứ bên Nga thế nào?

Cả hai nơi chúng tôi phục vụ có khoảng 100 giáo dân. Người trẻ nhất là một tuổi và người già nhất là 89. Ở đây việc tiếp xúc gần gũi hơn ở Mỹ. Chẳng hạn như tôi có thể gọi điện thoại hai lần trong tháng để hỏi thăm họ về sức khỏe hay họ có đi đâu v.v… và ai cũng cho là chuyện bình thường. Hoặc là khi thấy có ai không đi lễ tôi cũng có thể gọi hỏi thăm.

Xin Cha cho biết về kinh nghiệm quá khứ Công giáo của họ.

Đối với những người già thì coi như không có nhà thờ, không có linh mục trong thời gian họ sống trong chế độ Sô Viết. Người có tín ngưỡng thường bị ngược đãi. Do đó nhiều người ở Nga đã bỏ Đạo. Một số giáo dân ở xứ tôi thuộc những gia đình đến định cư ở Tây Bá Lợi Á, dầu họ muốn hay không, từ một số nước ở Đông Âu như Ba Lan và Ukraine. Một số khác, sau thời kỳ Cải Đổi Perestroika dưới thời Ông Gobarchev, tự nhiên thấy mình được đi lễ trở lại. Nhiều người bắt đầu nghe theo tiếng gọi của con tim họ.

Xin Cha cho biết vể Cộng Đồng Phan-xi-cô ở đó thế nào?

Chúng tôi là một cộng đồng quốc tế với 3 người ở Ussuriysk: Cha Stefano (người Ý), Cha Kiprian (người Ba Lan), and tôi (người Mỹ). Chúng tôi khác biệt nhau lắm, nhưng với thiện chí và nhẫn nại sâu xa, chúng tôi thành một cộng đồng tốt. Cha Stefano, 50 tuổi, có khả năng điều hành trung tâm Tau cho người vô gia cư. Cha Kiprian, 34 tuổi, giao thiệp tốt với thanh thiếu niên Nga, và đã dẫn một nhóm đi dự Đại hội Giới trẻ ở Ba Lan quê hương của Ngài năm 2016. Chúng tôi cầu nguyện và dâng lễ với nhau mỗi ngày. Chúng tôi cũng nấu ăm với nhau và thỉnh thoảng đi ăn pizza hoặc đi nghe nhạc miễn phí.

Xin Cha cho biết về trung tâm cho người vô gia cư được không?

Chỗ này được mở ra khi một vài người trước đây bị lạnh cóng ở ngoài đường. Dưới thời Sô Viết, người ta theo dõi dân chúng; nếu có ai không đi làm, họ sẽ tìm đến nhà. Nhưng trong chế độ bây giờ, người ta không quan tâm đến những người nghiện ngập, có lẽ chẳng có ai lo gì. Ở trung tâm này, chúng tôi có thể nhận đến 30 người (đàn ông) mỗi tối, và một số người đến ban ngày. Đàn bà thường đến ban ngày, có khi để ăn trưa hay để có người chuyện vãn.

Ngoài ra Cha có cách gì giúp họ nữa không?

Chúng tôi giúp khi có người làm mất hay bị đánh cắp giấy tờ tùy thân. Ở Nga mà không có giấy tờ thì không thể xin cái gì được hết. Chúng tôi sẽ giúp họ làm lại chiếu khán đi lại trong nước rồi mới bắt đầu làm những chuyện khác. Người già có thể xin tiền hưu để sống, mới có thể thuê một phòng để ở. Người tàn tật có thể ghi tên chờ để vào ở trong khu tàn tật.

Cha thích gì nhất đời sống ở Nga?

Người Nga. Tôi có nhiều người bạn tốt lắm. Tôi thích sự cởi mở chân thành khi họ đã biết mình. Có lẽ họ chân thành hơn ở Mỹ. Người Mỹ không thích cởi mở và cho biết những điều riêng tư. Người Nga thường tự nhiên chia xẻ; khi có chuyện gì rắc rối mình có thể đi nói với hàng xóm.

Cha có muốn ở Nga lâu hơn không?

Tôi muốn ở thêm một vài năm nữa. Cơ sở Nga này đang ở trong giai đoạn cần thiết. Hiện chỉ có 14 giáo sĩ và tu sĩ ở đây; bằng một nửa khi tôi mới đến. Ở đây mình cần phải kiên nhẫn, chịu đựng, và tha thứ (để được tốt đẹp). Cho đến nay tôi vẫn quyết chí tiếp tục. Tôi vẫn tiếp tục mỉm cười.

Làm sao có thể giúp người Mỹ hiểu người Nga hơn?

Điều quan trọng là phải nhớ họ cũng là người như mình. Họ có thể có những ưu tiên khác và quan niệm khác mình, nhưng họ cũng chỉ muốn sống trong bình an, có đời sống gia đình bình an, có công việc tốt, và mùa Hè cũng muốn đi ra biển chơi, như mình.

Bây giờ Cha cần gì cho cá nhân mình?

Xin cầu nguyện cho tôi. Điều đó thật quan trọng. Chúng tôi bị cô lập ở Nga, và Nga bị cô lập về nhiều phương diện. Vẫn còn là thời kỳ phôi thai khi Đức tin Công giáo trở lại. Những người mang Đức tin cần nhận ra là những người khác bên ngoài trên thế giới vẫn còn nhớ đến họ.